Một số nội dung về vai trò, trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân
Hội đồng nhân dân các cấp và đại biểu Hội đồng nhân dân đóng vai trò then chốt trong bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031, bảo đảm bầu cử diễn ra dân chủ, đúng luật, lựa chọn những người có đức, tài để thực thi các nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, củng cố dân chủ và phát triển đất nước, thể hiện vai trò giám sát, quyết định các vấn đề địa phương, xây dựng bộ máy chính quyền tinh gọn theo quy định hiện nay. Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025 (Luật số 72/2025/QH15), chính quyền địa phương chỉ gồm 02 cấp: cấp tỉnh và cấp xã, tức là Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) ở mỗi cấp này. Điều này là căn cứ pháp lý cho tổ chức bầu cử đại biểu HĐND ở các cấp này. HĐND, các cơ quan thuộc HĐND, UBND, Chủ tịch UBND, các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc UBND huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương, thị xã (sau đây gọi chung là cấp huyện) kết thúc hoạt động từ ngày 01 tháng 7 năm 2025. Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương; chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước Hội đồng nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình.
- Hội đồng nhân dân tỉnh (Điều 15 Luật số 72/2025/QH15), vai trò, trách nhiệm thể hiện khái quát qua các nhóm nội dung, như: (1) Quyết định chính sách địa phương: Quyết định các biện pháp bảo đảm thực thi Hiến pháp, pháp luật trên địa bàn. Phê duyệt các chương trình phát triển kinh tế - xã hội; các định hướng chiến lược, kế hoạch, chương trình mục tiêu quốc gia, ngân sách và phân bổ ngân sách địa phương. Quyết định áp dụng thí điểm các chính sách đặc thù, thậm chí những chính sách chưa được luật pháp quốc gia quy định, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với đặc điểm địa phương sau khi báo cáo và được Thủ tướng Chính phủ cho phép. (2) Về giám sát: Giám sát việc thực hiện pháp luật, quyết định của HĐND cùng cấp và của cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương. Kiểm tra việc sử dụng ngân sách, tài sản công và hiệu quả quản lý nhà nước,… HĐND thực hiện giám sát các cơ quan hành chính địa phương trong việc thực hiện nghị quyết, chính sách, pháp luật; báo cáo và chịu trách nhiệm trước cử tri. Đây là yếu tố pháp lý quan trọng thể hiện quyền lực của HĐND trong mối quan hệ với quyền lực hành chính và Nhân dân. (3) Hoạt động quyết sách khác: Quyết định các vấn đề quan trọng khác theo quy định của pháp luật. Thảo luận, quyết định về các báo cáo của UBND tỉnh, các tổ chức dưới quyền. Trong lĩnh vực tổ chức bộ máy và xây dựng chính quyền: HĐND tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn, như: Ban hành Quy chế làm việc của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Ủy ban nhân dân cùng cấp; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân theo quy định của pháp luật. Bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân và chấp thuận việc đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình thôi làm nhiệm vụ đại biểu theo quy định của pháp luật.
- Đối với Hội đồng nhân dân xã (Điều 21 Luật số 72/2025/QH15), thể hiện khái quát qua một số nhóm nội dung, như: (1) Quyết định biện pháp thực thi pháp luật trên địa bàn xã, bao gồm các biện pháp tổ chức, phân công trách nhiệm đảm bảo tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. (2) Quyết định các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội của xã, như: kế hoạch đầu tư công, các chương trình mục tiêu quốc gia tại xã. (3) Giám sát và đánh giá UBND xã, hoạt động của các cơ quan nhà nước ở xã. (4) Thảo luận, phê duyệt các báo cáo của UBND xã về thực thi pháp luật và kế hoạch nhiệm vụ. Có thể thấy, HĐND xã tích cực đóng vai trò quyết định chính sách sát dân, gần dân hơn - khẳng định tính quyết định của HĐND xã trong nhiều lĩnh vực quản lý địa phương. Trong lĩnh vực tổ chức bộ máy và xây dựng chính quyền: HĐND xã có nhiệm vụ, quyền hạn, như: Ban hành Quy chế làm việc của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Ủy ban nhân dân cùng cấp. Bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân và chấp thuận việc đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình thôi làm nhiệm vụ đại biểu theo quy định của pháp luật.
- Về biểu quyết của Hội đồng nhân dân: Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình bằng hình thức biểu quyết. Việc biểu quyết có thể bằng hình thức trực tiếp, trực tuyến hoặc bằng hình thức phù hợp khác theo Quy chế làm việc của Hội đồng nhân dân. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành; riêng nghị quyết về bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân được thông qua khi có ít nhất là hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành.
- Về đại biểu Hội đồng nhân dân (Điều 33 Luật số 72/2025/QH15), theo đó, đại biểu Hội đồng nhân dân có 10 nhiệm vụ, quyền hạn, như: (1) Đề xuất sáng kiến chính sách. (2) Đặt câu hỏi đối với người đứng đầu UBND và các cơ quan hành chính địa phương về vấn đề liên quan nhiệm vụ, quyền hạn. (3) Tiếp dân, xử lý kiến nghị, khiếu nại của cử tri. (4) Được ứng cử hoặc đề cử ứng cử giữ các chức danh trong chính quyền địa phương theo quy định.
- Xác định số lượng đại biểu HĐND: HĐND tỉnh có trách nhiệm xác định số lượng đại biểu HĐND theo nguyên tắc quy định trong Điều 30 Luật số 72/2025/QH15, cụ thể như sau: (1) Việc xác định số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được thực hiện theo nguyên tắc sau đây: i) Tỉnh có từ 1.000.000 dân trở xuống được bầu 50 đại biểu; có trên 1.000.000 dân thì cứ thêm 70.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 85 đại biểu; ii) Thành phố có từ 1.200.000 dân trở xuống được bầu 50 đại biểu; có trên 1.200.000 dân thì cứ thêm 75.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 85 đại biểu; iii) Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh được bầu 125 đại biểu. (2) Việc xác định số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã được thực hiện theo nguyên tắc sau đây: i) Xã ở miền núi, hải đảo có từ 5.000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu; có trên 5.000 dân đến 10.000 dân thì cứ thêm 1.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu; có trên 10.000 dân thì cứ thêm 3.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu; ii) Xã không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này có từ 10.000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu; có trên 10.000 dân đến 20.000 dân thì cứ thêm 2.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu; có trên 20.000 dân thì cứ thêm 6.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu; iii) Phường thuộc tỉnh có từ 10.000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu; có trên 10.000 dân đến 20.000 dân thì cứ thêm 2.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu; có trên 20.000 dân thì cứ thêm 6.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu; iv) Phường thuộc thành phố có từ 15.000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu; có trên 15.000 dân đến 45.000 dân thì cứ thêm 6.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu; có trên 45.000 dân thì cứ thêm 7.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu; v) Đặc khu có từ 5.000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu; có trên 5.000 dân đến 10.000 dân thì cứ thêm 1.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu; có trên 10.000 dân thì cứ thêm 3.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu.
- Mối liên hệ giữa Luật số 72/2025/QH15 và công tác bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031: Luật là cơ sở pháp lý bắt buộc để xây dựng kế hoạch, tổ chức cấu trúc Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới 2026 - 2031, vì bầu cử là quá trình chọn ra đại biểu cho các HĐND được luật điều chỉnh. Văn bản kế hoạch bầu cử của địa phương căn cứ vào Luật số 72/2025/QH15 để triển khai công tác bầu cử (như là định số lượng đại biểu, cơ cấu, quy trình bầu,…) cho nhiệm kỳ 2026 - 2031. Về tính thiết thực trong công tác bầu cử thì Luật quy định chức năng, nhiệm vụ và nhiệm kỳ của HĐND - những cơ quan sẽ được bầu trong cuộc bầu cử ngày 15/3/2026 cho nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các cơ quan bầu cử, ủy ban bầu cử và văn bản hướng dẫn bầu cử mới có thể lập hồ sơ, xác định số lượng đại biểu và tổ chức bầu cử đúng theo mô hình chính quyền địa phương đã đổi mới. Đồng thời, xác định tiêu chuẩn đại biểu HĐND, cơ cấu và tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với mô hình hai cấp.
Tóm lại có thể thấy Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân là cầu nối quan trọng giữa Nhân dân và chính quyền; trong bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031, vai trò của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân càng trở nên nổi bật, thể hiện qua việc không chỉ trong tổ chức bầu cử, mà còn trong việc xây dựng bộ máy chính quyền vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới./.

